images_nhom
-   Không phải là chương trình đào tạo lại lý thuyết về kế toán, kế toán tài chính, kế toán quản trị hay kế toán trưởng. -   Đó là việc khái quát hóa, mô phỏng lại các doanh nghiệp trong thực tiễn thành một số mô hình tiêu biểu rồi tiến hành nghiên cứu từng mô hình. -   ... Chi tiết
whoami
Bạn đang là sinh viên kế toán năm cuối của các trường. Bạn là kế toán mới ra trường đi tìm việc và chợt nhận ra một điều: tìm được việc làm chẳng hề dễ dàng mặc dù nhu cầu của xã hội rất lớn. Bạn đã từng làm kế toán nhưng chỉ là kế toán bộ phận hoặc một khâu nào đó ... Chi tiết

Khai giảng các khóa

Cảm nhận của các học viên sau khoá học đầu tiên

Bạn Nguyễn Trong Hải:

Tôi và các bạn trong lớp đã trải nghiệm thực tế qua hai tháng rưởi thật tuyệt vời. Bộ tài liệu và phương pháp của Trung tâm đã giúp cho tôi có được cái nhìn tổng quan và sâu sắc. Không có gì hơn để nói rằng, hôm nay tôi đã bắt đầu làm được việc một cách đúng nghĩa chứ không phải làm được việc một cách mù quáng hay đối phó.

Bạn Cao Thanh Thảo:

Trước đây bọn em đều nghĩ rằng, kiến thức ở trường lớp thì chí ít cũng ứng dụng để giải quyết được 70% công việc, nhưng giờ đây mới thấy rằng mình đã nhận định chủ quan và kêu ngạo. Em đã vỡ lẽ ra rằng, kế toán không chỉ là nợ - có. Nợ - có chẳng là gì cả mà vấn đề là phương pháp xử lý công việc của người kế toán, sự khéo léo, đo lường các ảnh hưởng của pháp luật, so sánh các lợi ích,...Bây giờ thì em đã tự tổ chức công việc kế toán và một mình em đã độc lập tác chiến được rồi.

Bạn Trần Thị Kim An:

Để học được môn kế toán không khó nhưng để làm được việc không đơn giản như trước đây em đã nghĩ. Giờ thì em đã biết, để xào nấu cho ra một món ăn kế toán hoàn chỉnh đòi hỏi rất nhiều nguyên liệu, trong đó nguyên liệu lý thuyết về kế toán chỉ chiếm một tỉ trọng rất nhỏ. Quan trọng là cách nấu và phối hợp đúng các loại nguyên liệu, sản phẩm làm ra có phù hợp với quy định của pháp luật và các bên có liên quan hay không....

Bạn Vũ Thị Hà:

Kiến thức xoay quanh vấn đề kế toán thật là nhiều nhưng cũng chưa đủ vào đâu. Rất nhiều tình huống thực tế xãy ra mà trước đây tôi không biết phải bắt đầu từ đâu. Giờ thì tôi đã có phương pháp, biết sử dụng những kiến thức nào, văn bản nào; kết thúc như thế nào là hoàn thiện. Tôi sẽ về công ty, sẽ lục tung những tài liệu kế toán cũ để làm lại cho hoàn chỉnh vì giờ đây tôi đã nhận ra nó chứa đựng quá nhiều sai sót....

Bạn Lý Huệ Minh:

...Em đã làm kế toán hơn 3 năm nay, nhân viên kế toán ở công ty em đang làm thường xử lý công việc theo cảm tính. Giờ thì em đã thay đổi hẳn cách làm việc và suy nghĩ. Thật tình, nếu không học qua lớp này, không biết mai mốt số phận sẽ ra sao. Em cảm thấy may mắn vì đã gặp được các anh chị của Trung tâm, anh chị đã cho bài học thật quý giá. Giờ đây em đã tự tin, em sẽ chấn chỉnh lại bộ máy kế toán của công ty mình, tổ chức công việc lại cho khoa học, tương lai của mình đã được chấp cánh rồi.

Bạn Nguyễn Văn Thuận:

...Thực tế chúng tôi đã luyện tập hết sức mình nhưng không chịu áp lực, tâm trạng rất thoải mái, gần gủi. Phương pháp của anh chị lạ lẫm, rất thực tế, rõ ràng, dễ hiểu, đặc biệt cần thiết cho công việc mà trường lớp không bao giờ có. Các anh chị của Trung tâm đã cho quá nhiều kiến thức thực tế và tình cảm. Tôi biết rằng những lời cảm ơn không thể chuyển tải hết sự cảm kích. Chúc các anh chị luôn thành công và hạnh phúc trong sự nghiệp !.

Khai giảng

"Lớp Kế toán tổng hợp"

- Lịch học               : tối; hai, tư, sáu

- Thời gian              : 18 h

- Số buổi:               : 24 (3 tiết / buổi)

- Sĩ số mỗi lớp        : không quá 20 học viên

- Học phí trọn khóa  : 2.600.000 đồng, có thể đóng thành hai lần.

- Điều kiện học tập  : học viên tự trang bị laptop

- Được tham dự miễn phí 03 buổi đầu trước khi đăng ký chính thức và đóng học phí.

- Học viên có nhu cầu, vui lòng đăng ký tại mục Đăng ký học. Trung tâm sẽ gửi "Thư mời tham dự 03 buổi miễn phí" bằng email đến học viên trước ngày khai giảng.


"Lớp Kê khai thuế"

- Lịch học               : tối; ba, năm, bảy

- Thời gian              : 18 h

- Số buổi:               : 12 (3 tiết / buổi)

- Sĩ số mỗi lớp        : không quá 20 học viên

- Học phí trọn khóa  : 900.000 đồng.

- Điều kiện học tập  : học viên tự trang bị laptop

- Được tham dự miễn phí 02 buổi đầu trước khi đăng ký chính thức và đóng học phí.

- Học viên có nhu cầu, vui lòng đăng ký tại mục Đăng ký học. Trung tâm sẽ gửi "Thư mời tham dự 02 buổi miễn phí" bằng email đến học viên trước ngày khai giảng.


Tham khảo chương trình học tại đây.

Mọi thắc mắc, vui lòng điền thông tin vào mục Liên hệ hoặc gọi điện thoại trực tiếp để được chúng tôi hỗ trợ ./.

Tin tức trung tâm

Nhiều bất cập trong đào tạo ngành Kế toán - kiểm toán

Nội dung môn học ngành Kế toán - kiểm toán còn nặng về lý thuyết; nhiều môn học còn trùng lặp nhau, thậm chí chưa gắn với thực tế công việc. Sinh viên ra trường còn yếu về kỹ năng mềm…
Đó là ý kiến nhận định của nhiều GS.TS, giảng viên tại hội thảo khoa học quốc gia về "Đổi mới đào tạo kế toán - kiểm toán trong các trường đại học khối kinh tế ở Việt Nam" diễn ra sáng nay 4/11 tại Trường ĐH Kinh tế quốc dân.

Nhiều môn học trùng lặp

Nhận định về thực trạng đào tạo ngành Kế toán tại nhiều trường đại học trong thời gian vừa qua, GS.TS Ngô Thế Chi, giám đốc Học viện Tài chính, cho biết: "Nhìn chung, nội dung chương trình và phương pháp giảng dạy các môn học Kế toán, Kiểm toán trong các trường đại học những năm qua đã có những đổi mới căn bản về nội dung và hình thức. Ngoài việc cung cấp cho sinh viên những lý luận cơ bản, môn học còn cung cấp cho họ những kỹ năng tính toán, ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh một cách cụ thể, tỉ mỉ vào các tài khoản kế toán, sổ kế toán và báo cáo tài chính".

Tuy nhiên, GS.TS Ngô Thế Chi cho hay, nội dung môn học vẫn còn nặng về lý thuyết thuần túy. Mặc dù, trong mấy năm gần đây nhiều trường đại học, học viện đã có những đổi mới tích cực trong phương pháp giảng dạy theo hướng giảm giờ lý thuyết, tăng giờ thực hành và giờ tự học của SV. Tuy nhiên, hiệu quả của việc này còn quá thấp vì cơ sở vật chất và kinh phí của các trường thường quá thiếu. Mặc khác, sự phối hợp với các doanh nghiệp để SV đi thực tập tốt nghiệp còn gặp nhiều khó khăn, thời gian thực tập ít, thậm chí chỉ là hình thức.

PGS.TS Nguyễn Năng Phúc, Trường ĐH Kinh tế quốc dân, cho rằng: “đào tạo chuyên ngành Kế toán - kiểm toán, theo chúng tôi còn quá nhiều môn học chuyên ngành, có nhiều môn học trùng lặp về nội dung khoa học như kế toán công ty, kế toán tập đoàn, kế toán công... vì có sự trùng lặp nên người giảng và người nghe đều không hứng thú”.

TS Nguyễn Khắc Hùng, Trường ĐH Sài Gòn, thẳng thắn nói: “Các trường bắt buộc phải tuân thủ chương trình khung của Bộ, trong đó các môn học bắt buộc thuộc phần giáo dục đại cương còn chiếm khối lượng khá lớn khiến cho việc giảm tải chương trình gặp nhiều khó khăn. Phương pháp giảng dạy vẫn thầy đọc trò chép và làm bài tập được thay bằng công thức “thầy giảng, trò nghe và làm bài tập”. Cách làm này tưởng chừng như đã đổi mới phương pháp dạy học nhưng không đảm bảo kiểm soát tất cả người học phải làm việc và không đảm bảo nâng cao kiến thức cho người học ở trình độ cao, người học chỉ học được những gì thầy dạy”.

Chỉ rõ thêm về sự bất cập trong chương trình đào tạo Kế toán - kiểm toán hiện nay, Thạc sĩ Trần Trung Tuấn, ĐH Kinh tế quốc dân, cho biết: “Mặc dù đã ban hành các chuẩn mực kế toán nhưng hầu hết các giáo trình về kế toán của các trường dều được soạn theo các thông tư hướng dẫn của Bộ Tài chính nên hạn chế phần nào đến khả năng sy luận và phát triển kiến thức của SV. Bên cạnh đó, chương trình hiện nay chưa tính đến vấn đề hội nhập. Đặc biệt, chưa chú trọng đến ngoại ngữ và kỹ năng mềm của cán bộ Kế toán - kiểm toán sau này một cách thích đáng”.

Xác định rõ mục tiêu chương trình đào tạo

Để khắc phục tình trạng trên, GS.TS Ngô Thế Chi đề nghị: “Rà soát lại nội dung cụ thể của môn học để tránh trùng lắp, giảm bớt những vấn đề không cần thiết, bổ sung kiến thức mới như các thông lệ, chuẩn mực chung mang tính quốc tế về kế toán nhằm cung cấp thêm lý luận cơ bản và tạo điều kiện cung cấp thông tin hội nhập về kế toán quốc tế và khu vực...; nội dung, phương pháp và nguyên tắc lập báo cáo tài chính, báo cáo quản trị, quy trình kiểm toán… Bên cạnh đó giáo viên cần thay đổi phương pháp giảng dạy hướng tới mục tiêu giúp cho SV tiếp thu được lý luận cơ bản về kế toán trong điều kiện hội nhập".

TS Nguyễn Khắc Hùng, trường ĐH Sài Gòn cho rằng: “Đổi mới chương trình đào tạo phải thực hiện đồng bộ với việc đổi mới phương pháp dạy và học. Không thể đổi mới chương trình đào tạo trên cơ sở phương pháp dạy và học cũ.

Phải xây dựng chương trình đào tạo một cách khoa học, xác định rõ mục tiêu của chương trình đào tạo. Trong chương trình đào tạo bao gồm nhiều môn học khác nhau, mỗi môn học phải thể hiện rõ mục tiêu đào tạo trong thời lượng cho phép và trong từng chương cũng nêu rõ mục đích phải đạt được. Xác định rõ nội dung để đạt được mục tiêu đề ra và chuyển tải nội dung đó đến người học”.

Hồng Hạnh

dantri.com.vn

Đưa đạo đức nghề nghiệp vào chương trình đào tạo kế toán

Chương trình ngành Kế toán - kiểm toán còn trùng lặp nhau, mang tính hàn lâm và việc đào tạo vẫn chưa đề cập đến vấn đề đạo đức nghề nghiệp.

Đó là nội dung được nhiều giáo sư, tiến sĩ, giảng viên đưa ra tại hội thảo khoa học quốc gia về "Đổi mới đào tạo kế toán - kiểm toán trong các trường đại học khối kinh tế ở Việt Nam" vừa diễn ra tại Hà Nội.

 

Nội dung trùng lặp

Đánh giá thực trạng công tác đào tạo bậc đại học ngành kế toán tại các trường đại học, thạc sĩ Nguyễn Đức Dũng, Trường ĐH Kinh tế Quốc dân cho biết, hiện nay trên cả nước chưa có quy hoạch cụ thể về mạng lướng các trường đào tạo về ngành kế toán.

“Việc thành lập các trường đại học đào tạo về kế toán khá dễ dàng mà chưa quan tâm nhiều đến chất lượng, chương trình đào tạo, cơ sở vật chất, nhất là đội ngũ giáo viên tham gia giảng dạy. Nhiều trường chưa có đội ngũ giáo viên cơ hữu chất lượng tốt, có khi chỉ ghi vào danh sách giảng dạy cơ hữu mà không thực sự tham gia đào tạo, để đào tạo vẫn phải thuê hoàn toàn giảng viên ở các trường đại học khác”- thạc sĩ Dũng nói.

Thạc sĩ Dũng còn cho rằng, chương trình đào tạo tại các trường đại học còn mang tính hàn lâm. thiếu thực tế... Kết cấu khung chương trình quá nặng mà không mang tính hiệu quả cao. Một số môn học có hiện tượng trùng kiến thức, việc cụ thể hóa chương trình đào tạo còn nhiều lúng túng.

Còn Giáo sư, Tiến sĩ Ngô Thế Chi - Giám đốc Học viện Tài chính cho rằng, nội dung môn học vẫn còn nặng về lý thuyết thuần túy, dù trong mấy năm gần đây, nhiều trường đại học, học viện có những đổi mới tích cực trong phương pháp giảng dạy theo hướng giảm giờ lý thuyết, tăng giờ thực hành và giờ tự học của sinh viên.

Tuy nhiên, hiệu quả của việc này còn quá thấp vì cơ sở vật chất và kinh phí của các trường thường quá thiếu. Mặc khác, sự phối hợp với các doanh nghiệp để sinh viên thực tập tốt nghiệp còn gặp nhiều khó khăn; thời gian thực tập ít, thậm chí chỉ là hình thức.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Năng Phúc, Trường ĐH Kinh tế quốc dân, cho rằng, đào tạo chuyên ngành Kế toán - kiểm toán còn quá nhiều môn học chuyên ngành, có nhiều môn học trùng lặp về nội dung khoa học như kế toán công ty, kế toán tập đoàn, kế toán công. Vì có sự trùng lặp nên người giảng và người nghe đều không hứng thú.

Thạc sĩ Trần Trung Tuấn, ĐH Kinh tế quốc dân cho rằng: “chương trình hiện nay chưa tính đến vấn đề hội nhập. Đặc biệt, chưa chú trọng đến ngoại ngữ và kỹ năng mềm của cán bộ Kế toán - kiểm toán sau này một cách thích đáng”.

Đạo đức nghề nghiệp

Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Ngô Hà Tấn - Trường ĐH Kinh tế (ĐH Đà Nẵng) cho rằng, giảng dạy môn học kế tóan tài chính phải có sự thay đổi. Với bài tập kế toán tài chính cần phải xuất phát từ thực tế, không nên suy diễn từ lý thuyết. Phải nghiên cứu những tình huống từ thực tế để hình thành bài tập, qua đó yêu cầu sinh viên phân tích, giải quyết tình huống từ cơ sở lý thuyết.

Phó Giáo sư Tấn đề xuất, các chương trình đào tạo kế toán và kiểm toán hiện nay vẫn chưa đề cập đến vấn đề đạo đức nghề nghiệp: “Trong thực tế có khá nhiều vụ việc tiêu cực xuất phát từ lĩnh vực kế toán và kiểm toán. Hành xử một cách có đạo đức là vấn đề quan trọng, có thể ảnh hưởng đến hình ảnh của doanh nghiệp, lợi ích của doanh nghiệp và niềm tin của công chúng. Do đó, chương trình học cần đưa vào các chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp như một nội dung thiết yếu”.

Giáo sư, Tiến sĩ Ngô Thế Chi đề nghị: “Rà soát lại nội dung cụ thể của môn học để tránh trùng lặp, giảm bớt những vấn đề không cần thiết, bổ sung kiến thức mới như các thông lệ, chuẩn mực chung mang tính quốc tế về kế toán, nhằm cung cấp thêm lý luận cơ bản và tạo điều kiện cung cấp thông tin hội nhập về kế toán quốc tế và khu vực...”

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Năng Phúc, Trường ĐH Kinh tế quốc dân đề xuất hoàn thiện chương trình đào tạo kế toán- kiểm toán trong các chương đại học. Khi xây dựng chương trình đào tạo cần tham khảo một số chương trình đào tạo chuyên ngành kế toán- kiểm toán của các trường đại học tiên tiến trên thế giới, thông qua việc khảo sát các chương trình đào tạo tại một số trường đại học khối kinh tế hàng đầu thế giới.

“Khi xây dựng chương trình đào tạo chuyên ngành kế toán- kiểm toán bậc đại học cần xem xét và kết hợp với chương trình đào tạo chuyên ngành bậc cao học và nghiên cứu sinh. Điều này hạn chế tối đa những kiến thức trùng lặp về chuyên môn ở cả ba cấp đào tạo”- Phó Giáo sư Phúc cho hay.

Đỗ Hợp

Tienphong.vn

Nghề kế toán

Kế toán là bộ phận không thể thiếu ở tất cả các đơn vị tổ chức. Vì vậy thị trường việc làm của nghề này rất rộng lớn. Nghề này đòi hỏi bạn phải trung thực, cẩn thận, năng động, sáng tạo...

Kế toán là gì?

Mỗi đơn vị, tổ chức trong xã hội đều phải có một lượng tài sản nhất định để tiến hành các hoạt động. Trong quá trình hoạt động, đơn vị thực hiện các hoạt động như: trả lương, mua hàng, bán hàng, sản xuất, vay vốn đầu tư... Các hoạt động đó gọi là hoạt động kinh tế tài chính.

Người quản lý của đơn vị cần thu nhận thông tin về chúng để giải quyết các câu hỏi: Sản xuất mặt hàng nào? Giá bán là bao nhiêu? Hoạt động của đơn vị có lãi hay không? Tài sản của đơn vị còn bao nhiêu?...

Kế toán sẽ cung cấp cho họ những câu trả lời đó thông qua các hoạt động:

- Thu nhận: Ghi chép lại các hoạt động kinh tế vào các chứng từ kế toán.

- Xử lý: Hệ thống hóa các thông tin từ chứng từ kế toán vào sổ sách kế toán.

- Cung cấp: Tổng hợp số liệu để lập các báo cáo kế toán.

Trên cơ sở các báo cáo kế toán mà người quản lý cũng như những người quan tâm đến hoạt động kinh tế tài chính của đơn vị (người cho vay, ngân hàng, nhà đầu tư) đề ra các quyết định đúng đắn mang lại hiệu quả cao nhất.

Một nghề “xa mà… gần, gần… mà xa”, có thể nói về nghề này như thế! Gần là bởi mọi tổ chức đơn vị đều có bộ phận kế toán vì người quản lý trực tiếp ở đơn vị cũng như các cơ quan quản lý kinh tế tài chính của Nhà nước đều phải cần đến các thông tin kế toán.

Các bạn chắc đã nghe nhiều tới những từ liên quan tới nghề này như: kế toán trưởng, chứng từ, sổ sách kế toán. Thế nhưng xa là vì thông tin về hoạt động kinh tế của đơn vị thường không thể nói cho nhiều người biết được thậm chí còn là những “bí mật kinh doanh”.

Những người làm kế toán thường không nói nhiều về công việc cụ thể của mình vì vậy họ thường bị coi là những người khô khan, kiệm lời. Thực tế không phải như vậy, bạn có thể thấy những người làm kế toán vui vẻ, trẻ trung như thế nào ở trang web ketoan.com.vn (một trang có tới gần 30.000 thành viên). Và họ đã tổ chức một hội nghề nghiệp của mình - “Hội kế toán” hay “Câu lạc bộ kế toán trưởng doanh nghiệp”.

Chọn nghề này, bạn sẽ làm việc ở đâu?

Kế toán là bộ phận không thể thiếu ở tất cả các đơn vị tổ chức. Vì vậy thị trường việc làm của nghề này rất rộng lớn. Hãy làm một phép tính nhỏ: Cho đến năm 2010, nước ta sẽ có khoảng 500.000 doanh nghiệp, mỗi doanh nghiệp cần từ 3-5 kế toán viên… Cơ hội việc làm quả là “mênh mông”.

Đó là chưa kể tới các loại hình đơn vị khác:

- Ngoài doanh nghiệp (các đơn vị hoạt động vì mục đích lợi nhuận như: Cty cổ phần, Cty TNHH, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, ngân hàng, bảo hiểm...), bạn có thể làm việc ở các đơn vị công - các đơn vị hoạt động không vì lợi nhuận như: các cơ quan hành chính sự nghiệp, trường học, bệnh viện…

- Xét theo đối tượng sử dụng thông tin, bạn có thể làm kế toán tài chính với mục đích cung cấp thông tin ra bên ngoài doanh nghiệp cho các cơ quan quản lý nhà nước (thuế, thống kê, kế hoạch đầu tư); cho các nhà đầu tư, ngân hàng, cổ đông… hoặc làm kế toán quản trị để cung cấp các thông tin cho chính những người quản lý ở đơn vị bạn.

Ngoài ra, một lý do rất chính đáng mà bạn nên chọn nghề này đó là công việc ổn định và có thu nhập tốt.

Để làm nghề kế toán bạn cần những phẩm chất gì?

- Trung thực: Kế toán viên phải cung cấp các thông tin trung thực về hoạt động tài chính của đơn vị để đối tượng sử dụng thông tin đề ra quyết định đúng đắn.

Kế toán viên không trực tiếp thực hiện hoạt động đó nhưng phải có nghĩa vụ cung cấp thông tin đúng đắn về nó giống như “Người viết sử không làm ra lịch sử, nhưng quyết không cho lịch sử bước qua đầu”.

- Cẩn thận: Nghề này luôn gắn liền với tài liệu, sổ sách, giấy tờ trong đó chứa đựng những con số “biết nói” về tình hình tài chính của đơn vị vì vậy kế toán viên phải cẩn thận trong việc giữ gìn tài liệu cũng như tính toán những con số để làm sao chúng “nói” đúng nhất với người sử dụng thông tin.

- Ngoài ra nghề này vẫn đòi hỏi có sự năng động, sáng tạo, có kiến thức tổng hợp để phân tích đánh giá tham mưu cho người sử dụng thông tin đề ra các quyết định đúng đắn.

Tuy nhiên, nếu bạn ưa bay nhảy, hoạt động giao tiếp rộng với cộng đồng thì cần suy nghĩ trước khi chọn nghề kế toán./.

Khó tìm kế toán giỏi

Thứ Hai, 09/05/2011

"Các trường ĐH cần đổi mới giáo trình đào tạo kế toán, kiểm toán theo chuẩn mực đào tạo quốc tế; chủ động liên kết đào tạo với doanh nghiệp..."

Đó là những kiến nghị mà nhiều đại biểu đưa ra tại hội thảo “Đổi mới công tác đào tạo kế toán, kiểm toán bậc ĐH tại Việt Nam” do Hội Kế toán và Kiểm toán Việt Nam và Hiệp hội Kế toán Công chứng Anh (ACCA) tổ chức mới đây tại TPHCM.

Sinh viên Trường ĐH Kinh tế TPHCM tại buổi ra mắt cuộc thi Brainstorm

Mơ hồ việc làm

Theo ông Mai Thanh Tòng, Phó Chủ tịch Hiệp hội Kế toán TPHCM, đa số sinh viên tốt nghiệp ngành kế toán, kiểm toán không thể áp dụng rành những gì được học từ nhà trường vào công việc tại doanh nghiệp (DN), dù đó không phải là công việc phức tạp. Các công ty nước ngoài luôn gặp khó khăn trong việc tìm kế toán viên vừa ý và càng khó khăn hơn khi tìm những người có trình độ chuyên môn cao như kế toán trưởng, giám đốc tài chính.

Từng đảm nhận giám đốc tài chính, quản lý cấp cao tại các tập đoàn đa quốc gia như Unilever, Coca-Cola, Scancom, VMEP… trong 25 năm qua, ông Trần Xuân Nam, Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Thế kỷ 21, Phó Giám đốc CLB CFO (Chief Financial Officer) Việt Nam, khẳng định: “Tôi chưa bao giờ tuyển dụng được một nhân viên kế toán nào ưng ý. Chất lượng đầu ra của sinh viên ngành kế toán, kiểm toán ở Việt Nam không đáp ứng được yêu cầu công việc của các công ty lớn”.

Còn theo bà Lê Hạ, Giám đốc Công ty TNHH Kiểm toán Tâm Việt, kế toán, kiểm toán là một trong những ngành học được giới trẻ theo học nhiều nhất. Điều này phù hợp xu hướng phát triển kinh tế của đất nước, tạo ra nguồn cung ứng nhân lực dồi dào cho DN. Nhưng bất cập ở chỗ chất lượng nhân lực qua đào tạo còn rất thấp. “Nhiều em sinh viên ra trường còn mơ hồ về việc làm, không xác định được mục tiêu nghề nghiệp. Trong quá trình đi thực tập tại các công ty, các em cũng rất bỡ ngỡ với công việc của mình, bộc lộ những yếu kém về chuyên môn lẫn kỹ năng làm việc” - bà Lê Hạ nhận xét.

Hệ quả của đào tạo

Tiến sĩ Vũ Hữu Đức, Trưởng Khoa Kế toán – Kiểm toán, ĐH Mở TPHCM, cho rằng những hạn chế trong đào tạo nhân lực kế toán, kiểm toán như đội ngũ giảng viên thiếu và yếu, giáo trình chậm đổi mới, không phù hợp thực tiễn…, đã dẫn đến hệ quả nói trên. Ông Đức cho hay trên thế giới đã có chuẩn mực đào tạo kế toán do Ủy ban Chuẩn mực Đào tạo Kế toán Quốc tế (International Accounting Education Standards Board - IAESB) thuộc Liên đoàn Kế toán Quốc tế (International Federation of Accountants - IFAC) ban hành.

Còn các trường ĐH, CĐ ở Việt Nam thì chỉ dựa trên chương trình khung của Bộ GD – ĐT để xây dựng chương trình đào tạo cho riêng mình nên khả năng được thừa nhận của sinh viên Việt Nam tại các chương trình quốc tế không cao. Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến phần đông sinh viên ra trường khó có thể đáp ứng yêu cầu của các DN nước ngoài.

Theo ông Trần Xuân Nam, giáo trình đào tạo kế toán, kiểm toán hiện nay và giáo trình cách đây 30 năm về cơ bản là giống nhau. Do vậy, phải có sự cải tiến, đổi mới trên cơ sở xây dựng giáo trình theo chuẩn mực đào tạo quốc tế. Bản thân giảng viên các trường ĐH cũng nên đi thực tế tại các công ty đa quốc gia để nắm bắt yêu cầu về trình độ chuyên môn của DN. Bà Lê Hạ đồng tình cho rằng phải thay đổi toàn diện về đào tạo để khắc phục hạn chế mang tính phổ biến hiện nay: “Giảng viên không có sự định hướng cho sinh viên trước khi đi thực tập, không có sự liên hệ chặt chẽ với DN, chưa có trách nhiệm với “sản phẩm” của mình”.

100% sinh viên “ngại” công ty ngoại

Theo tiến sĩ Trần Phước, Trưởng Khoa Kế toán – Kiểm toán, ĐH Công nghiệp TPHCM, qua khảo sát 250 sinh viên tốt nghiệp từ các trường ĐH như ĐH Kinh tế TPHCM, ĐH Công nghiệp TPHCM, Học viện Tài chính… thì 91% sinh viên cho rằng chủ yếu được học lý thuyết; 70% phải được đào tạo, hướng dẫn lại mới đủ năng lực hành nghề.

Về khả năng thích ứng với thị trường lao động thì 100% sinh viên trả lời chỉ tự tin làm việc cho những đơn vị trong nước, còn nước ngoài thì chưa thể. Ngoài ra, kỹ năng sử dụng phần mềm kế toán, phân tích, tổ chức thông tin kế toán bằng phương tiện hiện đại của sinh viên còn mơ hồ.

Bài và ảnh: Phan Anh

Tin tức kế toán, thuế

Từ 1/5/2012, lương tối thiểu tăng lên 1.050.000 đồng

Theo nghị định được Chính phủ ban hành hôm nay, lương tối thiểu chung từ 1/5 tới là 1.050.000 đồng/tháng, tăng 220.000 đồng/tháng so với hiện nay.

 

Mức lương tối thiểu chung nêu trên áp dụng với cán bộ, công chức, viên chức, các đối tượng thuộc lực lượng vũ trang và người lao động làm việc ở các cơ quan, đơn vị, tổ chức gồm cơ quan nhà nước, lực lượng vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội; Đơn vị sự nghiệp của Nhà nước; đơn vị sự nghiệp của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội; công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu được tổ chức quản lý và hoạt động theo luật Doanh nghiệp. Mức lương tối thiểu chung quy định trên được dùng làm cơ sở để tính các mức lương trong hệ thống thang lương, bảng lương, mức phụ cấp lương và thực hiện một số chế độ khác theo quy định của pháp luật đối với cán bộ, công chức, viên chức, các đối tượng thuộc lực lượng vũ trang và người lao động làm việc ở các cơ quan, đơn vị, tổ chức theo quy định. Bên cạnh đó, còn dùng để tính trợ cấp kể từ ngày 1/5/2012 trở đi đối với lao động dôi dư theo Nghị định số 91/2010/NĐ-CP ngày 20/8/2011 của Chính phủ quy định chính sách đối với người lao động dôi dư khi sắp xếp lại công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu; tính các khoản trích và các chế độ được hưởng tính theo lương tối thiểu chung. Kinh phí thực hiện đối với các đối tượng do ngân sách nhà nước bảo đảm từ các nguồn: Sử dụng 10% tiết kiệm chi thường xuyên (trừ tiền lương và các khoản có tính chất lương) theo dự toán đã được cấp có thẩm quyền giao năm 2012 của cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp. Sử dụng tối thiểu 40% số thu được để lại theo chế độ năm 2012 của các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp có thu.

Riêng đối với các đơn vị sự nghiệp thuộc ngành y tế, sử dụng tối thiểu 35% số thu để lại theo chế độ (sau khi trừ chi phí thuốc, máu, dịch truyền hóa chất, vật tư tiêu hao, vật tư thay thế). Sử dụng 50% nguồn tăng thu ngân sách địa phương, không kể tăng thu tiền sử dụng đất (bao gồm 50% nguồn tăng thu hiện so với dự toán thu năm 2011 Thủ tướng Chính phủ giao và 50% tăng thu dự toán năm 2012 so với dự toán thu năm 2011 Thủ tướng Chính phủ giao). Nguồn kinh phí thực hiện cải cách tiền lương còn dư đến hết năm 2011 của cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp và các cấp ngân sách địa phương. Ngân sách trung ương bổ sung nguồn kinh phí để thực hiện mức lương tối thiểu chung trong trường hợp các bộ, cơ quan Trung ương và các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã thực hiện đúng các quy định nêu trên nhưng vẫn còn thiếu. Ngân sách trung ương hỗ trợ những địa phương khó khăn, chưa cân đối được nguồn với mức bình quân 2/3 so với mức lương tối thiểu chung đối với người hoạt động không chuyên trách xã, phường, thị trấn, ở thôn và tổ dân phố. Kinh phí thực hiện mức lương tối thiểu chung đối với người lao động làm việc trong các công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu được tổ chức quản lý và hoạt động theo luật Doanh nghiệp do công ty bảo đảm và được hạch toán vào giá thành hoặc chi phí sản xuất kinh doanh. Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 1/6. Các quy định nêu tại Nghị định được tính hưởng từ ngày 1/5 tới./. Xem tiếp

Theo TTXVN

CV 1040/TCT hướng dẫn nhập liệu trên Phụ lục 05A/BK-TNCN

BỘ TÀI CHÍNH

TỔNG CỤC THUẾ

-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

---------------

Số: 1040/TCT-TNCN

V/v hướng dẫn nhập dữ liệu trên Phụ lục 05A/BK-TNCN đối với cá nhân không có số CMND.

Hà Nội, ngày 23 tháng 03 năm 2012

Kính gửi: Cục Thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

Tổng cục Thuế nhận được ý kiến của một số địa phương đề nghị hướng dẫn nhập dữ liệu trên Phụ lục 05A/BK-TNCN đối với cá nhân cư trú có ký hợp đồng lao động nhưng không có số Giấy chứng minh nhân dân (CMND). Về vấn đề này, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:

- Theo quy định tại Điều 21, Điều 22 Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006 thì: Cá nhân trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày phát sinh giữa vụ thuế TNCN có thu nhập chịu thuế TNCN phải đăng ký thuế để được cấp MST.

- Theo hướng dẫn tại Phụ lục số 05A/BK-TNCN ban hành kèm theo Thông tư số 28/2011/TT-BTC ngày 28/02/2011 thì cá nhân cư trú có ký hợp đồng lao động nếu chưa có MST thì phải có số Giấy chứng minh nhân dân.

- Tại khoản 1, Điều 3 và khoản 1, Điều 7 Nghị định số 05/1999/NĐ-CP ngày 03/2/1999 của Chính phủ về Chứng minh nhân dân quy định:

“Điều 3. Đối tượng được cấp Chứng minh nhân dân

1. Công dân Việt Nam từ đủ 14 tuổi trở lên, đang cư trú trên lãnh thổ Việt Nam (sau đây gọi tắt là công dân) có nghĩa vụ đến cơ quan công an nơi đăng ký hộ khẩu thường trú làm thủ tục cấp Chứng minh nhân dân theo quy định của Nghị định này.”

“Điều 7. Sử dụng Chứng minh nhân dân

1. Công dân được sử dụng Chứng minh nhân dân của mình làm chứng nhận nhân thân và phải mang theo khi đi lại, giao dịch; xuất trình khi người có thẩm quyền yêu cầu kiểm tra, kiểm soát. Số Chứng minh nhân dân được dùng để ghi vào một số loại giấy tờ khác của công dân.”

Căn cứ quy định và hướng dẫn nêu trên, trường hợp đơn vị chi trả ký hợp đồng lao động với cá nhân không có CMND thì phải yêu cầu cá nhân làm thủ tục xin cấp CMND để kê khai vào Phụ lục số 05A/BK-TNCN khi quyết toán thuế TNCN.

Riêng đối với quyết toán năm 2011, đến thời điểm quyết toán mà cá nhân chưa kịp có CMND thì đơn vị chi trả được phép tạm nhập MST của đơn vị chi trả vào chỉ tiêu [09] Phụ lục 05A/BK-TNCN theo cấu trúc sau:

(MST của cơ quan chi trả, nhập liền 10 hoặc 13 ký tự số) - (Đánh số thứ tự lần lượt các cá nhân không có CMT)

VD: Cơ quan chi trả X có 10 cá nhân không có số CMND, MST của đơn vị chi trả là 0100100079-001 thì giá trị nhập vào Chỉ tiêu [09] Phụ lục 05A/BK-TNCN như sau:

Stt

Họ và tên

Chỉ tiêu [09]

01

Nguyễn Văn A

0100100079-001-1

02

Nguyễn Văn B

0100100079-001-2

10

Nguyễn Văn C

0100100079-001-10

Để tránh việc đơn vị chi trả lợi dụng không nhập MST/CMND của cá nhân, kể cả cá nhân đã có MST/CMND gây khó khăn cho cơ quan thuế trong việc quản lý thu thuế TNCN, đề nghị các cục thuế tổng hợp và lựa chọn những đơn vị chi trả có nhiều cá nhân không có CMND hoặc có khoản chi trả lớn cho cá nhân không có CMND để đưa vào diện kiểm tra và đôn đốc đơn vị chi trả yêu cầu cá nhân xin cấp CMND.

Tổng cục Thuế hướng dẫn để Cục thuế biết./.

 

Nơi nhận:

- Như trên;

- Cục CNTT - TCT;

- Vụ PC-TCT;

- Lưu: VT, TNCN.

KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG

PHÓ TỔNG CỤC TRƯỞNG

Vũ Văn Trường

Thông tư số 06/2012/TT-BTC hướng dẫn về thuế GTGT

Hà Nội, ngày 11 tháng 01 năm 2012

THÔNG TƯ

HƯỚNG DẪN THI HÀNH MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG, HƯỚNG DẪN THI HÀNH NGHỊ ĐỊNH SỐ 123/2008/NĐ-CP NGÀY 08/12/2008 VÀ NGHỊ ĐỊNH SỐ 121/2011/NĐ-CP NGÀY 27/12/2011 CỦA CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Thuế giá trị gia tăng số 13/2008/QH12 ngày 03 tháng 6 năm 2008;

Căn cứ Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2006;

Căn cứ Nghị định số 123/2008/NĐ-CP ngày 08 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng;

Căn cứ Nghị định số 121/2011/NĐ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2011 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 123/2008/NĐ-CP ngày 8 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng;

Căn cứ Nghị định số 118/2008/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính,

Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành về thuế giá trị gia tăng như sau...xem tiếp

Thông tư số 154/2011/TT-BTC giảm thuế năm 2011

Hà Nội, ngày 11 tháng 11 năm 2011

THÔNG TƯ

Hướng dẫn Nghị định số 101/2011/NĐ-CP ngày 4/11/2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Nghị quyết số 08/2011/QH13 của Quốc hội về ban hành bổ sung một số giải pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân.

______________________

Căn cứ Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp số 14/2008/QH12 ngày 3 tháng 6 năm 2008;

Căn cứ Luật Thuế giá trị gia tăng số 13/2008/QH12 ngày 03 tháng 6 năm 2008;

Căn cứ Luật Thuế thu nhập cá nhân số 04/2007/QH12 ngày 21 tháng 11 năm 2007;

Căn cứ Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2006; Căn cứ Nghị quyết số 08/2011/QH13 ngày 06 tháng 8 năm 2011 của Quốc hội ban hành bổ sung một số giải pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân;

Căn cứ Nghị định số 101/2011/NĐ-CP ngày 04 tháng 11 năm 2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Nghị quyết số 08/2011/QH13 của Quốc hội về ban hành bổ sung một số giải pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân;

Căn cứ Nghị định số 118/2008/NĐ-CP ngày 27/11/2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính;

Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện như sau:

CHƯƠNG I

VỀ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP

Điều 1. Quy định chung 1. Giảm 30% số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp năm 2011 đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa.

a) Doanh nghiệp nhỏ và vừa quy định tại Khoản này là doanh nghiệp đáp ứng các tiêu chí về vốn hoặc lao động theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa.

b) Số vốn làm căn cứ xác định doanh nghiệp được giảm thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2011 là tổng nguồn vốn được thể hiện trong Bảng cân đối kế toán lập ngày 31 tháng 12 năm 2010 của doanh nghiệp. Trường hợp doanh nghiệp nhỏ và vừa thành lập mới từ ngày 01 tháng 01 năm 2011 thì số vốn làm căn cứ xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa được giảm thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2011 là số vốn điều lệ ghi trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc Giấy chứng nhận đầu tư lần đầu.

c) Đối với các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh đa ngành nghề thì việc xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa căn cứ vào ngành nghề kinh doanh chính ghi trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp. Trường hợp không xác định được hoạt động kinh doanh chính của doanh nghiệp thì sử dụng một trong các tiêu chí dưới đây để xác định hoạt động kinh doanh chính của doanh nghiệp trong năm 2011:

- Số lao động làm việc nhiều nhất trong từng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

- Doanh thu cao nhất trong từng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Trường hợp sử dụng các tiêu chí nêu trên vẫn không xác định được hoạt động kinh doanh chính của doanh nghiệp để xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa thì căn cứ vào tiêu chí về vốn hoặc số lao động thấp nhất của ngành nghề trong số các ngành nghề mà thực tế doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh trong năm 2011 theo quy định tại Khoản 1, Điều 3 Nghị định số 56/2009/NĐ-CP.

d) Không áp dụng giảm thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp nhỏ và....xem tiếp tại đây

CV 230 /TCT-TNCN của TCT V/v Hướng dẫn QT thuế TNCN 2011

Việc thực hiện quyết toán thuế Thu nhập cá nhân đã được quy định tại Luật Thuế Thu nhập cá nhân, Nghị định số 100/2008/NĐ-CP ngày 8/9/2008 của Chính Phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế Thu nhập cá nhân, Thông tư số 84/2008/TT-BTC ngày 30/9/2008 của Bộ Tài chính, Thông tư số 62/2009/TT-BTC ngày 27/3/2009 của Bộ Tài chính, Thông tư số 02/2010/TT-BTC ngày 11/01/2010 của Bộ Tài chính, Thông tư số 154/2011/TT-BTC ngày 11/11/2011 của Bộ Tài chính và các văn bản hướng dẫn của Tổng cục Thuế. Nay để đảm bảo thực hiện thống nhất Tổng cục Thuế hướng dẫn thêm một số điểm về quyết toán thuế Thu nhập cá nhân năm 2011 như sau:

I. Về đối tượng phải kê khai quyết toán thuế:

1. Tổ chức, cá nhân trả thu nhập phải khấu trừ thuế không phân biệt có phát sinh khấu trừ hay không khấu trừ thuế.

2. Cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công, thu nhập từ kinh doanh phải quyết toán thuế thu nhập cá nhân:

- Có số thuế phải nộp lớn hơn số thuế đã khấu trừ hoặc tạm nộp;

- Có yêu cầu hoàn số thuế nộp thừa hoặc bù trừ vào kỳ sau

3. Cá nhân cư trú có thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán đã đăng ký nộp thuế Thu nhập cá nhân theo thuế suất 20% tính trên thu nhập tính thuế với cơ quan thuế phải quyết toán thuế trong các trường hợp:

- Số thuế phải nộp tính theo thuế suất 20% lớn hơn tổng số thuế đã tạm khấu trừ theo thuế suất 0,1% trong 7 tháng đầu năm và 0,05% trong 5 tháng cuối năm 2011;

- Có yêu cầu hoàn thuế nộp thừa.

4. Cá nhân cư trú là người nước ngoài khi kết thúc hợp đồng làm việc....Xem chi tiết tại đây

Nghị định 101/2011 Giảm thuế TNDN và TNCN năm 2011

Đó là nội dung Nghị định số 101/2011/NĐ-CP của Chính phủ vừa ban hành ngày 04/11/201, tóm tắt như sau:

- Giảm 30% số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp năm 2011 của doanh nghiệp vừa và nhỏ.

- Giảm 30% số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp năm 2011 của doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động trong lĩnh vực sản xuất, gia công, chế biến.

- Giảm 50% mức thuế khoán giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân từ ngày 01 tháng 7 năm 2011 đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2011 đối với: hộ, cá nhân kinh doanh nhà trọ, phòng trọ cho công nhân, sinh viên, học sinh thuê; hộ, cá nhân chăm sóc trông giữu trẻ và hộ, cá nhân cung ứng suất ăn ca cho công nhân.

- Giảm 50% số thuế giá trị gia tăng và số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp phát sinh từ ngày 01 tháng 7 năm 2011 đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2011 đối với hoạt động cung ứng suất ăn ca cho công nhân.

- Giảm 50% số thuế thu nhập cá nhân từ ngày 01 tháng 8 năm 2011 đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2012 đối với thu nhập từ hoạt động chuyển nhượng chứng khoán của cá nhân.

- Miễn thuế thu nhập cá nhân từ ngày 01 tháng 8 năm 2011 đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2012 đối với cá nhân có thu nhập tính thuế từ tiền lương, tiền công và từ kinh doanh đến mức phải chịu thuế thu nhập cá nhân ở bậc 1 của Biểu thuế lũy tiến từng phần.

Đối tác: